Trọng thầy mới được làm thầy ''

Ngày 04 tháng 08 năm 2020

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Hoạt động dạy và học

Hoạt động dạy và học

Cập nhật lúc : 07:40 25/04/2019  

Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy môn Khoa học lớp 5
Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học. Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phương pháp dạy học. Việc đổi mới phương pháp dạy học là vô cùng cần thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay và nó cũng là yêu cầu “sát sườn” đối với từng trường học. “Bàn tay nặn bột” là một trong những phương pháp dạy học mới đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, là nhân tố quan trọng của việc cải tiến dạy học về kiến thức khoa học tự nhiên ở bậc tiểu học. "Bàn tay nặn bột" là một phương pháp giáo dục tiên tiến, giúp hình thành kiến thức và nhân cách cho trẻ em. Vì thế, nó không chỉ phát huy hiệu quả ở cấp tiểu học mà còn có thể áp dụng cho các cấp giáo dục cao hơn. Đây là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểu học, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học. Phương pháp dạy học này tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ đó khám phá ra bản chất vấn đề. Do vậy, để học sinh học tốt môn khoa học lớp 5, việc sử dụng phương pháp dạy học sao cho đạt hiệu quả cao nhất vẫn là vấn đề cần được giáo viên quan tâm. Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng được mục tiêu trên và có thể vận dụng tốt vào dạy khoa học ở các lớp 4-5 là phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Qua thực tế trực tiếp giảng dạy và dự giờ thăm lớp của bạn bè đồng nghiệp, bản thân tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm đáng kể khi áp dụng phương pháp dạy học này vào dạy môn Khoa học lớp 5 nên tôi mạnh dạn trình bày chuyên đề: Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy môn Khoa học lớp 5 góp phần không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục toàn diện cho học sinh.

II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN::

1. Giáo viên phải nắm chắc cơ sở sư phạm của tiến trình dạy học:

Muốn xây dựng được quy trình dạy học theo Phương pháp Bàn tay nặn bột, giáo viên phải nắm chắc cơ sở sư phạm của tiến trình dạy học theo phương pháp này. Cụ thể như sau:

- Phương pháp Bàn tay nặn bột đề xuất một tiến trình sư phạm, ưu tiên xây dựng những tri thức (hiểu biết, kiến thức) bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận.

- Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm, xây dựng tập thể chứ không phải phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất phát từ sự ghi nhớ thuần túy.

- Học sinh tự mình thực hiện các thí nghiệm, các suy nghĩ và thảo luận để hiểu được các kiến thức cho chính mình.

- Học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động. Học sinh học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn; Học sinh học tập bằng hỏi đáp với các học sinh cùng lớp (theo nhóm làm việc 2 người hoặc với nhóm lớn), bằng cách trình bày quan điểm cá nhân của mình, đối lập với quan điểm của bạn và về các kết quả thực nghiệm để kiểm tra sự đúng đắn và tính hiệu lực của nó.

- Tùy theo tình hình, từ một câu hỏi của học sinh có thể đề xuất những tình huống cho phép tìm tòi một cách có lí lẽ; giáo viên hướng dẫn học sinh chứ không làm thay; giáo viên giúp đỡ học sinh làm sáng tỏ và thảo luận quan điểm của mình, đồng thời chú ý tuân thủ việc nắm bắt ngôn ngữ; giáo viên cho học sinh phát biểu những kết luận có ý nghĩa từ các kết quả thu được, đối chiếu chúng với các kiến thức khoa học; giáo viên điều hành hướng dẫn học sinh tập luyện để tiến bộ dần.

-  Các buổi học ở lớp được tổ chức xung quanh các chủ đề theo hướng tiến trình có thể đồng thời giúp học sinh tiếp thu được kiến thức, hiểu được phương pháp tiến hành và rèn luyện được ngôn ngữ viết và nói. Một thời lượng đủ cần thiết cho phép nắm bắt, tái tạo và tiếp thu một cách bền vững nội dung kiến thức.

Tiến trình sư phạm của PP BTNB ( gồm 5 bước)

 Sau đây tôi xin trình bày cụ thể tiến trình sư phạm của phương pháp Bàn tay nặn bột theo 5 bước, với mỗi bước có kèm theo ví dụ minh họa mà thực tế tôi đã thực hiện để hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức như sau:

Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

- Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là khâu quan trọng đầu tiên để tạo tình huống xuất phát như một cách nhập vào bài dạy. Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ.

- Khi đưa ra tình huống xuất phát thì nhiệm vụ của học sinh là quan sát suy nghĩ còn giáo viên chủ động đưa ra một tình huống mở có liên quan đến vấn đề khoa học đặt ra.

 - Tình huống xuất phát hay câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh. Vì vậy để thực hiện thành công tiết dạy theo phương pháp Bàn tay nặn bột thì khâu quan trọng đầu tiên là tạo tình huống xuất phát cho bài dạy.

Ví dụ: Khi dạy kiến thức về: Lắp mạch điện đơn giản (Khoa học lớp 5)

Để tạo tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề thì tôi tiến hành như sau:

Với 1 viên pin, 1 bóng đèn và đoạn dây điện làm thế nào để thắp sáng bóng đèn.  

Qua thực tế, tôi đã áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột, khi đặt câu hỏi cho học sinh cần lưu ý một số vấn đề sau:

 - Khi đặt câu hỏi nên để một thời gian ngắn cho học sinh suy nghĩ hoặc có thời gian trao đổi nhanh với các học sinh khác, từ đó giúp học sinh tự tin hơn khi trình bày và trình bày mạch lạc hơn khi có thời gian chuẩn bị.

 - Khi nêu câu hỏi, cần nói to, rõ ràng. Nếu trường hợp học sinh chưa nghe rõ câu hỏi thì phải nhắc lại, tuy nhiên không nên nhắc lại nhiều lần vì làm như vậy sẽ làm phân tán học sinh do học sinh tưởng rằng giáo viên đưa ra câu hỏi mới.

- Câu hỏi không nên quá dài vì như vậy học sinh sẽ không thể nắm bắt yêu cầu của câu hỏi.

Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu

- Để giúp học sinh mạnh dạn tự tin khi bộc lộ quan niệm ban đầu, tôi luôn chú ý các vấn đề sau:

+ Khuyến khích tất cả học sinh đều có thói quen và trách nhiệm trình bày ý kiến của mình.

+ Khi yêu cầu học sinh trình bày biểu tượng ban đầu, tôi yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của học sinh, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ trong quyển vở thí nghiệm của mình.

Ví dụ : Khi dạy kiến thức: Lắp mạch điện đơn giản.

Các em hãy suy nghĩ theo quan điểm của mình bằng cách vẽ hoặc viết cách mắc mạch điện vào phiếu của mình theo nhóm.

Để học sinh bộc lộ quan điểm ban đầu của mình về cách lắp mạch điện làm thế nào được thắp sáng bóng thì tôi đã tiến hành như sau:

H: làm thế nào để thắp sáng bóng đèn lên các em hãy suy nghĩ theo quan điểm của mình bằng cách vẽ hoặc viết cách mắc mạch điện vào phiếu thí nghiệm của mình theo nhóm.

Nhiệm vụ học sinh có thể mô tả bằng hình vẽ, có thể mô tả bằng lời hay thể hiện suy nghĩ của bản thân.

Trong thời gian học sinh viết, vẽ các ý kiến của mình vào phiếu thí nghiệm, tôi tranh thủ quan sát nhanh để tìm ra các hình vẽ khác nhau, tôi chú ý không nhất thiết để ý tới các hình vẽ đúng và cần phải chú trọng đến các hình vẽ sai (Vì đây là biểu tượng ban đầu  ngây thơ của các em.)

Nếu một vài học sinh nào đó nêu ý kiến đúng, tôi không vội vàng khen ngợi hoặc có những biểu hiện chứng tỏ ý kiến đó là đúng. Biểu tượng ban đầu của học sinh càng đa dạng, phong phú, càng sai lệnh với kiến thức đúng thì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho học sinh và ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện hơn.

Sau khi có các biểu tượng ban đầu khác nhau, phù hợp với ý đồ dạy học, tôi giúp học sinh phân tích những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa các ý kiến, từ đó hướng dẫn cho học sinh đặt câu hỏi cho những sự khác nhau đó.

Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm

Sau khi lựa chọn được một số biểu tượng ban đầu khác biệt của học sinh theo ý đồ dạy học, tôi tiếp tục cho học sinh đề suất các câu hỏi nghi vấn, những băn khoăn, thắc mắc cần tìm hiểu về đối tượng.

 Ví dụ : Khi dạy: Lắp mạch điện đơn giản

Tôi hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi nghi vấn như sau:

+ Có phải pin là nguồn cung cấp năng lượng điện làm cho đèn sáng không?
          + Nếu lắp mạch điện như dự đoán các nhóm thì đèn có sáng không?

+ Phải lắp mạch điện như thế nào thì bóng đèn mới sáng?

+ Có mấy cách để lắp mạch điện cho bóng đèn sáng?

Sau khi học sinh đề suất các câu khỏi nghi vấn, tôi gợi ý cho học sinh so sánh các biểu tượng giống hoặc khác nhau (không nhất trí giữa các ý kiến) của các biểu tượng ban đầu. Từ những sự khác nhau cơ bản đó, tôi giúp học sinh đề xuất các câu hỏi. Như vậy việc làm rõ các điểm khác nhau giữa các ý kiến ban đầu trước khi học kiến thức của học sinh là một mấu chốt quan trọng. Các biểu tượng ban đầu càng khác nhau thì học sinh càng bị kích thích ham muốn tìm tòi chân lý (kiến thức).

Đề xuất thí nghiệm nghiên cứu:

- Khi đặt ra câu hỏi rồi, khi đề ra hình vẽ rồi thì bây giờ học sinh phải đề ra cách thực hiện để kiểm chứng xem giả thuyết của mình có đúng không. Học sinh đưa ra giả thuyết như vậy, bây giờ phải đề xuất phương án kiểm tra thực hành thí nghiệm xem những phương án nào là phương án đúng.

Học sinh đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu :

 + Phương án thứ nhất: Thí nghiệm lắp mạch điện ngay tại lớp

 + Phương án thứ hai: Là xem hình vẽ trong sách giáo khoa.

 + Phương án thứ ba: Tìm hiểu trên intenert

 + Phương án thứ tư: Hỏi bố mẹ.

- Khi học sinh đề xuất phương án tìm câu trả lời, tôi không vội vàng nhận xét phương án đó đúng hay sai mà chỉ hỏi ý kiến các học sinh khác nhận xét, phân tích. Nếu các học sinh khác không trả lời được thì giáo viên gợi ý những mâu thuẫn mà phương án đó không đưa ra câu trả lời được nhằm gợi ý để học sinh tự rút ra nhận xét và loại bỏ phương án và chọn phương án tối ưu nhất để trả lời ngay tại lớp.

-  Nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặc diễn đạt chưa rõ thì tôi gợi ý và từng bước giúp học sinh hoàn thiện diễn đạt. Ngoài ra có thể yêu cầu các học sinh khác chỉnh sửa cho rõ ý. Đây là một vấn đề quan trọng trong việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh.

- Trường hợp học sinh đưa ra ngay thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu đúng nhưng vẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì tôi tiếp tục hỏi các học sinh khác để làm phong phú phương án tìm câu trả lời. Tôi nhận xét trực tiếp nhưng yêu cầu các học sinh khác cho ý kiến về phương pháp mà học sinh đó nêu ra. Phương pháp Bàn tay nặn bột khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến của nhau hơn là của giáo viên nhận xét.

- Sau khi học sinh đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, tôi nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn. Trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu thích hợp, tôi gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án nếu gợi ý mà học sinh chưa nghĩ ra.

Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu

Khi tiến hành thực hiện thí nghiệm, cần nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích thí nghiệm chuẩn bị tiến hành để làm gì?

Khi học sinh làm thí nghiệm thì tôi đã kiên trì, không vội vàng thúc dục học sinh hay hướng dẫn ngay khi học sinh làm sai mà cần động viên học sinh tiếp tục khám phá bằng nhiều phương án thí nghiệm khác nhau. Trong trường hợp cần thiết, mà thấy nhóm hoặc học sinh nào làm sai theo yêu cầu thì tôi chỉ nhắc nhỏ trong nhóm đó hoặc với riêng học sinh đó, không nên thông báo lớn tiếng chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các nhóm học sinh khác.

Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra, tôi đã khéo léo nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để học sinh tiến hành. Ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm cho mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ. Đối với phương pháp quan sát, tôi cho học sinh quan sát vật thật trước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật.

 Chú ý yêu cầu học sinh thực hiện độc lập các thí nghiệm trong trường hợp các thí nghiệm được thực hiện theo từng cá nhân. Nếu thực hiện theo nhóm thì cũng yêu cầu tương tự như vậy. Thực hiện độc lập theo cá nhân hay nhóm để tránh việc học sinh nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho giáo viên phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm nghiên cứu, đặc biệt là các thí nghiệm được thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thí nghiệm giống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý sẽ không thu được kết quả thí nghiệm như ý.

 Lưu ý học sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hành thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau đó ghi vào vở thí nghiệm. Phần ghi chép này, tôi để học sinh ghi chép tự do, không nên gò bó và có khuôn mẫu quy định, nhất là đối với những lớp mới làm quen với phương pháp Bàn tay nặn bột. Đối với các thí nghiệm phức tạp thì tôi đã thiết kế một mẫu sẵn để học sinh điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm.

Ví dụ : Khi dạy kiến thức: Lắp mạch điện đơn giản.

- Sau khi quan sát, tôi thấy HS thực hành lắp mạch điện yêu cầu học nêu cách lắp mạch điện.

- Nếu học sinh chưa giải thích được cách lắp mạch điện để thắp sáng bóng đèn thì tôi không vội chỉnh sửa. Học sinh lắp như thế nào, nêu cách làm thì đó là quyền của học sinh, tôi không chỉnh sửa.

  Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức

 Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học. Tôi tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học.

Trước khi kết luận chung, tôi khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (biểu tượng ban đầu) trước khi học kiến thức. Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt. Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức.

2. Một số lưu ý về kĩ thuật dạy học và rèn luyện kĩ năng cho học sinh khi áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột.

3,1. Tổ chức lớp học:

- Bố trí vật dụng trong lớp học sao cho hài hoà theo số lượng học sinh trong lớp

- Khoảng cách giữa các nhóm không quá chật.

- Chú ý đảm bảo ánh sáng.

3.2. Không khí làm việc trong lớp  học:

- GV cần xây dựng không khí làm việc và mối quan hệ giữa các học sinh dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và đối xử công bằng, bình đẳng giữa các HS trong lớp.

- Tránh tuyệt đối luôn khen ngoại quá mức một vài HS nào đó hoặc để cho cá HS khá, giỏi trong lớp luôn làm thay công việc của cả nhóm mà không tạo cơ hội làm việc cho các học sinh khác.

3.3. Giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu

- Vì học sinh ngại nói, sợ sai và sợ bị chê cười. Do đó, giáo viên cần khuyến khích học sinh trình bày ý kiến của mình.

- Chấp nhận và tôn trọng những quan điểm sai của học sinh khi trình bày biểu tượng ban đầu.

- Không nên vội vàng khen những ý kiến đúng vì sẽ làm ức chế các HS khác muốn trình bày ý kiến của mình.

3.4. Tổ chức hoạt động thảo luận cho học sinh

- Thảo luận được thực hiện ở nhiều thời điểm trong dạy học bằng phương pháp BTNB.

- Có hai hình thức thảo luận: thảo luận nhóm nhỏ và thảo luận nhóm lớn.

- Tuyệt đối không được nhận xét ngay là ý kiến của nhóm này đúng hay ý kiến của nhóm khác sai.

- Cho phép học sinh thảo luận tự do, tuy nhiên giáo viên cần hướng dẫn học sinh tới các kết luận khoa học chính xác của bài học.

3.5. Kỹ thuật tổ chức hoạt động nhóm trong phương pháp BTNB

- Mỗi nhóm không được quá nhiều HS. Nhóm làm việc lý tưởng từ 4 đến 6 HS, có khi là 2 học sinh.

- GV nên di chuyển đến các nhóm, tranh thủ quan sát hoạt động của các nhóm.

3.6. Kỹ thuật đặt câu hỏi của giáo viên

- Khi đặt câu hỏi nên để một thời gian ngắn cho HS suy nghĩ hoặc có thời gian trao đổi nhanh với các HS khác, từ đó giúp HS tự tin hơn khi trình bày và trình bày mạch lạc hơn khi có thời gian chuẩn bị.

- Câu hỏi không nên quá dài vì như vậy học sinh sẽ không thể nắm bắt được yêu cầu của câu hỏi.

- Đối với các câu hỏi gợi ý, giáo viên nên đặt câu hỏi ngắn, yêu cầu trong một phạm vi hẹp mình muốn gợi ý cho học sinh.

3. Hướng dẫn học sinh phân tích thông tin, hiện tượng quan sát khi nghiên cứu để đưa ra kết luận.

Khi làm thí nghiệm hay quan sát hoặc nghiên cứu tài liệu để tìm ra câu trả lời, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết chú ý đến các thông tin chính để rút ra kết luận tương ứng với câu hỏi. Đối với học sinh tiểu học vấn đề này hoàn toàn không đơn giản. Học sinh cần được hướng dẫn làm quen dần dần. Nếu giáo viên chỉ nêu lệnh rồi học sinh tự rút ra kết luận thì học sinh sẽ rất khó thực hiện, thậm chí còn đặt trọng tâm chú ý vào những điểm không cần thiết, mất thời gian. Chính vì vậy, để học sinh phân tích được thông tin và đưa ra kết luận thì giáo viên cần chú ý:

- Lệnh thực hiện phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu để giúp học sinh nhớ, hiểu và làm theo đúng hướng dẫn. Giáo viên nên ghi tóm tắt lệnh của mình lên bảng.

- Quan sát, bao quát lớp khi học sinh làm thí nghiệm. Gợi ý vừa đủ nghe cho   nhóm khi học sinh làm sai lệnh hoặc đặt chú ý vào những chỗ không cần thiết cho câu hỏi. Không nên nói to vì sẽ gây nhiễu cho các nhóm học sinh khác đang làm đúng vì tâm lý học sinh khi nghe giáo viên nhắc thì cứ nghĩ là giáo viên đang hướng dẫn cách làm đúng và nghi ngờ vào hướng thực hiện mà mình đang làm.

- Đối với các thí nghiệm cần quan sát một số hiện tượng trong thí nghiệm để rút ra kêt luận, giáo viên nên lưu ý cho học sinh chú ý vào các hiện tượng hay phần thí nghiệm đó để lấy thông tin, nhắc nhở học sinh bám vào mục đích của thí nghiệm để làm gì, trả lời cho câu hỏi nào…

 - Đối với các thí nghiệm cần đo đạc, lấy số liệu, giáo viên yêu cầu học sinh ghi chép lại các số liệu để từ đó rút ra nhận xét. Tốt nhất nên có mẫu ghi chú 13 kết quả thí nghiệm cho học sinh để học sinh ghi chú ngắn gọn, khoa học (thông qua các tờ rời phát cho học sinh lúc bắt đầu làm thí nghiệm). Điều này đối với học sinh tiểu học là rất cần thiết vì học sinh chưa thể tự mình thành lập bảng biểu hay trình bày khoa học các số liệu, thông tin thu nhận trong quan sát hay làm thí nghiệm.

 - Cùng một thí nghiệm kiểm chứng nhưng các nhóm khác nhau học sinh có thể sẽ bố trí thí nghiệm khác nhau với các vật dụng và cách tiến hành khác nhau theo quan niệm của các em, giáo viên không được nhận xét đúng hay sai và cũng không có biểu hiện để học sinh biết ai đang làm đúng, ai đang làm sai. Khuyến khích học sinh độc lập thực hiện giữa các nhóm, không nhìn và học theo nhau.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ TIẾT DẠY

Số lượt xem : 192

Các tin khác