Hạnh phúc không có nghĩa là mọi việc đều hoàn hảo. Nó có nghĩa là bạn đã quyết định nhìn xa hơn những khiếm khuyết "

Ngày 02 tháng 04 năm 2020

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Hoạt động dạy và học

Hoạt động dạy và học

Cập nhật lúc : 15:02 07/11/2019  

Một số giải pháp giúp học sinh có kĩ năng tìm tiếng mới đạt hiệu quả cao trong Tiếng Việt lớp 1 CGD
Chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng , môn Tiếng Việt ở Tiểu học rèn luyện cho học sinh cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết song mục tiêu của việc dạy và học Tiếng Việt CGD ở lớp một là đem lại cho các em kỹ năng đọc thông, viết thạo. Giúp các em nắm chắc luật chính tả, nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt. Đây là điều kiện chuẩn bị để các em học tốt hơn môn Tiếng Việt ở các lớp trên. Có đọc thông thì mới viết thạo. Trong đó kỹ năng tìm tiếng mới là sự khởi đầu giúp cho học sinh phát triển vốn từ Tiếng Việt, đó cũng là cách các em chiếm lĩnh kiến thức để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp. Cùng với kỹ năng viết, kỹ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em cái chìa khóa tư duy để các em thỏa sức sáng taọ ra những tiềng khác nhau trên những âm vần đã học. Qua đó các em sẽ cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài hoc. Các em sẽ hứng thú trong học tâp và chắc chắn sẽ tìm được niềm vui trên từng trang sách. Vì thế tôi đã tìm tòi và mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp giúp học sinh có kĩ năng tìm tiếng mới đạt hiệu quả cao trong Tiếng Việt lớp 1 CGD”

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

        Để rèn cho hoc sinh có kỹ năng thành thạo trong việc tìm tiếng mới là cả một quá trình rèn luyện xuyên suốt liên tục trong quá trình dạy môn TV 1 CGD. Đó là kết quả nhận biết các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được một bài văn ngắn, một bài thơ ngắn… Học sinh đã nhận được mặt chữ, biết ghép vần, ghép tiếng, ghép từ, đọc câu thì còn yêu cầu các em phải đọc đúng, đọc chuẩn, đọc chính xác. Vì nếu các em phát âm chuẩn, đọc đúng các em sẽ viết đúng, bài chính tả sai ít lỗi, và các em sẽ hiểu được ý của tiếng, từ, câu, bài  mà các em viết; đoc… Để giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng Tìm tiếng mới tôi đã áp dụng những giải pháp sau:

1. Rèn các thủ thuật ghi nhớ các âm, vần trong Tiếng việt lớp 1- CGD

a) Về âm:

b) Về vần

         - Để học tốt phần vần của Tiếng việt lớp 1- CGD, trước hết các em phải nắm chắc các âm đã học.

          Ví dụ: Học vần /uê/ biết gồm có 2 âm, âm u đứng trước, âm ê đứng sau.

          - Phải nắm chắc việc phân tích tiếng, vị trí các âm trong mô hình.

          Ví dụ: / huê/  / hờ/- / uê/ -/huê/

          - Nắm chắc các mẫu vần đã học để khi đưa tiếng vào mô hình không bị sai. Các em đôi khi còn sai khi đưa tiếng đã học vào mô hình. Vì vậy, giáo viên cần giúp các em nắm chắc các mẫu vần, nếu sai giáo viên kịp thời giúp học sinh sửa lỗi.

- Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng.

     - Để giúp các em học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen

        + Phân tích vần :

Ví dụ: khi dạy vần uê

       - GV phát âm uê

       - HS đọc theo 4 cấp độ: uê (To - nhỏ - nhẩm – thầm)

       - HS phân tích ai: u - ê – uê (đồng thanh, nhóm, cá nhân, dùng tay kèm thao tác phát âm)

     - GV hướng dẫn HS chỉ vào mô hình phân tích uê:  u – ê – uê ( âm chính ê và có âm đệm trước u, âm đệm ghi bằng chữ u, âm chính ghi bằng chữ ê) vài lần

- Đọc chữ ghi tiếng thanh ngang có vần vừa học. Tiếng thanh ngang và chữ ghi tiếng thanh ngang là đơn vị gốc: Nói (phát âm) để nắm được bản chất âm của âm đó.

Ví dụ: Tiếng thanh ngang có vần uê: buê, chuê, duê, đuê, guê, huê

 - Các em đọc trơn sau đó phân tích hai: huê - hờ - uê - huê,…

 - Đọc chữ ghi Tiếng các thanh khác là một cách sử dụng kiểm tra, củng cố sản phẩm đúc – Tiếng thanh ngang tiếng đó

    - Đánh vần theo cơ chế phân đôi:

Ví dụ: Tiếng hài

Cách đọc :      huề        / huê / - huyền – huề

   - Nếu các em không thể đọc trơn /huề/ được buộc phải đánh vần, thì lùi một bước đánh vần mấp máy môi: huề - /huê/ - huyền  – huề.

   - Nếu không đọc trơn được hài thì lùi thêm một bước nữa: huê- /hờ/ - /uê/- /huê/

   - Đọc trơn được huề thì ( nhẩm: huê – huyền – huề) đọc trơn hài

   - Đọc cả bốn mức độ âm thanh: to – nhỏ - nhẩm – thầm cách đọc này là huấn luyện ngay từ đầu và huấn luyện liên tục với các chữ (ghi âm và ghi tiếng) sẽ học

- Dùng nhiều cách đọc: Đọc cá nhân - tổ - cả lớp - đọc nối tiếp. Đọc đồng thanh.

      Với cách dạy như thế, nếu được áp dụng thường xuyên cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ năng phân tích kết hợp thao tác bằng tay, đánh vần trên mô hình đọc trơn vần một cách dễ dàng và thành thạo giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt. Trong các bài dạy vần, sách giáo khoa Tiếng Việt 1có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn để học sinh luyện đọc. Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng trong bài giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần sau đó cho các em ghép chữ cái đầu với vần vừa học để đọc tiếng, đọc từ của bài.

     - Ngoài ra GV có thể lồng ghép trò chơi “Học mà chơi, chơi mà học trong giờ học” để tạo không khí vui vẻ,  hứng thú hơn trong giờ học.

Ví dụ: Khi học sinh tìm tiếng có vần uy giáo viên cho  một em lên điều khiển trò chơi “Chèo thuyền” cả lớp cùng chơi lần lượt từng em nêu tiếng mình vừa tìm được, sau đó đọc trơn rồi đọc phân tích.

2. Rèn cho hs  kĩ năng tương tác để phát hiện và điều chỉnh lẫn nhau

- Hoạt đông dạy học luôn được thực hiện trong mối quan hệ tương tác GV-HS; HS-HS… Trong mỗi tiết học diễn ra đó nếu thiếu sự tương tác đó thì tiết học đó sẽ trở nên đơn điệu không phát huy được tính tích cực của hoc sinh. Đặc biệt qua sự tương tác đó sẽ giúp các em có kĩ năng nghe - nhận xét - khắc sâu kiến thức. Các em sử dụng kĩ năng ấy thường xuyên trong các tiết học sẽ trở thành bản năng tự chiếm lĩnh kiến thức trong học tập

- Qua quá trình nghe để dánh giá nhận xét bạn các em có cơ hội để tự điều chỉnh sửa sai cho mình và ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc hơn.

Chẳng hạn khi  cho hs tìm tiếng có vần “”  tôi  giao nhiệm vụ  cụ thể cho từng tổ  Thay âm đầu để được tiếng mới.

Tổ 1: với  các âm đầu  b, c, ch, d, đ,g, h,…

Tổ 2 : kh, l, m, n, ng, nh, ph,….

Tổ 3 : r, s, t, th, tr, v, x,…

Sau khi  bạn trình bày thì các tổ khác chăm chú  theo dõi đánh giá nên các em tìm tiếng  mới rất tốt: buy, chuy, duy, đuy…

3. Tạo môi trường giao tiếp cho các em thông qua các hoạt động học tập phát triển vốn từ thông qua tìm tiếng mới

- Có thể giúp hs tìm tiếng mới dưới hình thức trò chơi, giờ sinh hoat…Bởi vì những lúc vui chơi là các em sử dụng lời nói một cách hồn nhiên nhất. Từ đó các em hoạt ngôn hơn, phát triển vốn từ và khả năng giao tiếp một cách tự nhiên; giúp các em tự tin giao tiếp khi hoc tập cũng như trong cuộc sống

- Xây dựng đôi bạn cùng tiến, bạn đọc được giúp bạn đọc còn chậm, nói chưa lưu loát

- Thay đổi hình thức dạy học; môi trường học tập. Giáo viên cũng nên dành nhiều thời gian để  trò chuyện tạo không khí học tập thoải mái để hs mạnh dạn chia sẻ những điều mình tiếp thu hoặc cảm nhận được. Để cho các em luôn cảm thấy: Đi học là hạnh phúc. Mỗi ngày đến trường náo nức một niềm vui.

4. Kết hợp với phụ huynh giúp hs có kĩ năng tạo tiếng mới :

- Tôi đã tiến hành họp phụ huynh học sinh đầu năm học: Đề nghị và yêu cầu thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học.

- Yêu cầu phụ huynh thường xuyên nhắc nhở việc học bài, đọc bài ở nhà của con em mình, đồng thời hướng dẫn phụ huynh cơ bản về cách đọc, các phát âm chữ cái, cách đánh vần vần, đánh vần tiếng …

- Hướng dẫn quy trình tìm tiếng mới cụ thể trong từng phần một cách có hệ thống gồm 2 bước

+ B1: Thay âm đầu để được tiếng mới

+ B2: Thay thanh vào tiếng thanh ngang để có tiếng mới

MỘT SÔ HÌNH ẢNH VỀ TIẾT DẠY

Số lượt xem : 65

Các tin khác